+ Bookluanvan
Chào bạn, Đăng ký để tham gia Tại đây
  • Login:

Chào mừng đến với luận văn tốt nghiệp, khoá luận, Báo cáo thực tập, tiểu luận.

Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    Thành viên vinh dự

    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    209

    hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam

    NOTE
    MỞ ĐẦU
    1. Tính cấp thiết của đề tài
    Trải qua một thế kỷ, dân tộc ta chìm trong chế độ nô lệ. Nhân dân ta sống trong cuộc đời lầm than khổ nhục bởi áp bức, đè nén và bóc lột của thực dân và nữa phong kiến. Bác Hồ đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Con đường cách mạng mà Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn dẫn đến Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền lập nên Nhà nước dân chủ kiểu mới. Ngay những ngày đầu khó khăn ấy, bản luận cương chính trị của Đảng đã nêu khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” cùng với “ nam nữ bình đẳng”. Người phụ nữ Việt Nam đổi đời toàn diện cả về vật chất và tinh thần. Vị thế xã hội và chính trị của người phụ nữ từng bước được nâng lên. Tài năng và nhân phẩm được tôn trọng và phát huy.
    Ở thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo di huấn của Bác Hồ, Đảng ta khởi xướng chủ trương đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế. Phụ nữ Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào lực lượng sản xuất nói chung và nền kinh tế tri thức nói riêng, góp phần làm tăng trưởng kinh tế và thay đổi diện mạo đất nước.
    Từ đó đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm trong các văn kiện qua các kỳ Đại hội. Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ:
    Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ [16, tr.120].
    Nam nữ bình đẳng là một trong những quyền cơ bản của con người. Trong xã hội dân chủ, quyền này luôn đựơc coi trọng. Ở Việt Nam, chủ trương bình đẳng giới được đề ra ngay từ khi Đảng Cộng sản ra đời. Chính sách bình đẳng giới thật sự là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chính sách phụ vận qua các thời kỳ phát triển của nhà nước ta. Quyền bình đẳng giới đã được Hiến định ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước (1946). Vị trí, vai trò của nữ giới được xã hội tôn trọng và pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi để nữ giới phát triển tài năng và tham gia hoạt động chính trị, hoạt động xã hội.
    Tuy nhiên, việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng giới bằng pháp luật bên cạnh những ưu điểm và tiến bộ còn bộc lộ những tồn tại cần được khắc phục nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Nhà nước với vai trò quản lý và nắm quyền lực chung, Nhà nước có nhiệm vụ ban hành, bổ sung nhằm hoàn chỉnh và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ đối với nam giới về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong gia đình và ngoài cộng đồng.
    Hiện nay, Nhà nước đã ban hành nhiều qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, phòng chống hành vi xâm phạm đến quyền bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Luật Bình đẳng giới, một số luật khác và các văn bản dưới luật có liên quan. Tuy vậy, việc hoàn thiện pháp luật đòi hỏi cần bổ sung một số điều luật mới đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội đã phát sinh như: vấn đề quấy rối tình dục, ngược đãi, ức hiếp vợ, lạm dụng tình dục trẻ em, bạo lực gia đình…Đồng thời rà soát lại các văn bản dưới luật về chống văn hóa phẩm đồi trụy, về việc sử dụng công nghệ cao nhằm trục lợi bất chính như games online đưa trẻ em vào thế giới ảo. Tình hình bạo lực gia đình gia tăng và rất nghiêm trọng, mỗi năm nạn nhân chết do bạo hành gia đình lên đến hàng trăm. Ngoài ra, còn có cả những qui phạm pháp luật được ban hành với mục đích ban đầu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ nhưng thực tế tác động của nó mang lại cho phụ nữ không ít bất công, thiệt thòi như chế độ học phí, chế độ nghỉ thai sản… Bên cạnh đó, một số chế tài pháp luật chưa nghiêm đối với những hành vi vi phạm quyền, nhân phẩm phụ nữ, quyền trẻ em… Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới là rất cần thiết.
    Vì vậy, nghiên cứu đề tài này là rất quan trọng, nhằm đưa ra những quan điểm, giải pháp về vấn đề này góp phần giúp các cơ quan, tổ chức cá nhân trong và ngoài nước quan tâm hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, khắc phục những bất cập, tồn tại trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới trong thời gian tới.
    2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
    Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội. Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự quan tâm chung của cộng đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á, những hậu quả nặng nề của “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong cuộc sống xã hội.
    Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, bình đẳng giới luôn là nguyên tắc Hiến định trong pháp luật nước ta: Điều 63 Hiến pháp 1992 qui định “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình", “nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ. Xúc phạm nhân phẩm phụ nữ…”. Vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào giai đoạn mới của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện mục tiêu mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng giới tiếp tục là đề taì được nhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Nhiều công trình, đề tài được công bố là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp lụât, chính sách dành cho phụ nữ, vì sự tiến bộ của phụ nữ, phòng, chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ…
    Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: Lê Ngọc Hùng: “Xã hội học về giới và phát triển”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000; TS Ngô Bá Thành: “Sự bình đẳng về cơ hội kinh tế của phụ nữ trong pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam”, xuất bản năm 2001; “Đưa vấn đề giới vào phát triển: thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói”, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2001; Lương Phan Cừ: “Bình đẳng giới- hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất bản năm 2004; GS Lê Thi - Viện khoa học xã hội Việt Nam: “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004; TS Đỗ Thị Thạch: “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2005; Lê Ngọc Văn (chủ biên) - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Gia đình và giới: “Nghiên cứu gia đình lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2006; Viện Khoa học xã hội Việt Nam,Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Trung tâm Nghiên cứu giới và gia đình: “Giới, việc làm và đời sống gia đình”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2007; LS Trịnh Đình Thể: “Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp luật”, Nxb Tư pháp, năm 2007; Dương Thị Ngọc Lan: “Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2000; Chu Thị Thoa: “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay”, chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa học, mã số: 5.01.03, năm 2002; Đổ Thị Thơm: “Hoàn thiện pháp luật về quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2004; Đặng Thị Ánh Tuyết: “Bình đẳng giới ở nông thôn miền núi phía Bắc hiện nay”, Chuyên ngành Xã hội học, mã số: 60.31.30; Hoàng Mai Hương: “Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01; Cao Quốc Việt: “Hoàn thiện pháp luật phòng chống mua, bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2006; Nguyễn Thanh Sơn: “Hoàn thiện pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội ở Việt Nam hiện nay”, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số: 60.38.01, năm 2006; và nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có liên quan.
    Những công trình nêu trên chỉ mới đề cập một số khía cạnh này hoặc khía cạnh khác liên quan đến bình đẳng giới và pháp luật về quyền của phụ nữ. Trong đó đáng chú ý là công trình của Lương Phan Cừ mới chỉ nghiên cứu chủ yếu về hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới. Công trình này xuất bản năm 2004, đến nay thực trạng pháp luật về bình đẳng giới đã có nhiều thay đổi. Vì vậy, đây là công trình mới nghiên cứu có hệ thống về thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
    3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
    3.1. Mục đích
    Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
    3.2. Nhiệm vụ
    - Nghiên cứu cơ sở lý luận về bình đẳng giới, hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
    - Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới; vì sự tiến bộ của phụ nữ; nhận xét, đánh giá những thành tựu; những hạn chế trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới và nguyên nhân của những hạn chế đó.
    - Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
    4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
    4.1. Đối tượng nghiên cứu
    Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới, một số khái niệm về bình đẳng giới, pháp luật về bình đẳng giới, nghiên cứu thực trạng của quyền bình đẳng nam, nữ trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
    4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
    Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam qua các giai đoạn và thực trạng pháp luật về bình đẳng giới hiện nay nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.
    5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
    5.1. Cơ sở lý luận
    Luận văn dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các Công ứơc quốc tế Việt Nam tham gia, ký kết về quyền bình đẳng nam, nữ; bình đẳng giới; vì sự tiến bộ của phụ nữ.
    5.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
    Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin;
    Đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp;
    Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn.
    6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
    Từ trước đến nay đã có một số tác giả bước bước đầu đã nghiên cứu về pháp luật về bình đẳng giới, song những tác giả này chỉ mới đề cập một số khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Vì vậy, đây là công trình mới nghiên cứu có hệ thống lý luận thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới. Những đóng góp của luận văn thể hiện tập trung ở các nội dung sau đây:
    - Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các quan điểm, tác giả đưa ra quan điểm của mình về khái niệm giới, bình đẳng giới, khái niệm pháp luật về bình đẳng giới, tiêu chí hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới.
    - Phân tích, nhận xét, đánh gía khái quát thực trạng pháp lụât về bình đẳng giới.
    - Đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
    7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
    Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng trong quá trình xây dựng và hòan thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, những kết quả của luận văn có thể được vận dụng làm tài liệu nghiên cứu về bình đẳng giới và xây dựng pháp luật về bình đẳng giới trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Đồng thời luận văn góp phần hệ thống hóa pháp lụât về bình đẳng giới.
    8. Kết cấu của luận văn
    Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu làm 3 chương, 7 tiết.
    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Thị Báo (2003), "Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia đình", Tạp chí Lý luận chính trị, (số 10).
    2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1984), Chỉ thị số 44/CT-TW, 07/6/1984, về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ.
    3. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1993), Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 29/9/1993 về thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cườngcông tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.
    4. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thỉ 37/CT-TW16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới.
    5. Bộ Chính trị (1967), Nghị quyết số 153-NQ/TW, 10/01/1967 về công tác cán bộ nữ.
    6. Bộ Chính trị (1993), Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.
    7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 20010, định hướng đến năm 2020.
    8. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Tổng Cục thống kê (2003), Cuộc điều tra lao động việc làm.
    9. Bộ Ngoại giao và Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (2005), Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước Liên Hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW).
    10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Quyết định số 4776QĐ-BNN/TCCB ngày 28/10/2003 của Bộ trưởng phê duyệt chiến lược và kế họach hoạt động giới trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.
    11. Chính phủ (1996), Nghị định 49/CP ngày 15/8/1996.
    12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    14. Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII (1997), Hội nghị lần thứ III, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    17. Đàm Hữu Đắc (2006), "Bình đẳng giới thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ", Tạp chí Lao động và xã hội.
    18. Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói (2001), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
    19. GDI (Gender-related Development Index), Chỉ số phát triển liên quan đến vấn đề giới (GDI) được xác định trên cơ sở tuổi thọ, trình độ giáo dục và so sánh địa vị của nam và nữ.
    20. GEM (Gender-Empowrment Measure), Chỉ số quyền lực giới (GEM) được xác định trên cơ sở xem xét khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với các cơ hội nghề nghiệp, kinh tế và chính trị.
    21. Hoàng Châu Giang (2007), Những nội dung cơ bản của Luật Bình đẳng giới, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
    22. Lê Thị Bích Hồng (2005), “Phụ nữ trong bối cảnh bình đẳng giới”, Dân số và phát triển bền vững.
    23. Http://Vietecm.org.
    24. Http://www.quochoi.vn
    25. Lê Ngọc Hùng (2000), Xã hội học về giới và phát triển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
    26. Trần Thị Quốc Khánh (2006), "Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, xã hội", Lao động và Xã hội.
    27. Hà Thị Khiết (2004), "Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CP/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới", Khoa học về phụ nữ.
    28. Liên Hợp quốc (1979), Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW).
    29. Dương Thanh Mai (2004), Công ước của Liên Hiệp Quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    30. Võ Thị Mai (2003), Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp, hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    31. Võ Thị Mai (2007), "Về năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị", Tạp chí Khoa học xã hội, (04).
    32. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    33. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    34. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    35. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    36. Những nội dung cơ bản của lụât bình đẳng giới (2007), Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.
    37. Oxfam và chương trình cứu trợ nhân đạo (2008).
    38. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp 1946.
    39. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1959), Hiến pháp 1959.
    40. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp 1980.
    41. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997.
    42. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật Tổ chức tín dụng năm 1997.
    43. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Luật giáo dục năm 1998.
    44. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật Hình sự 1999.
    45. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
    46. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001.
    47. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Bộ luật Lao động 1994, sửa đổi bổ sung 2002.
    48. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Hợp tác xã năm 2003.
    49. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai năm 2003.
    50. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật tố tụng dân sự 2004.
    51. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật Dân sự 2005.
    52. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Bình đẳng giới năm 2007.
    53. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
    54. Số liệu báo cáo CEDAW lần 2 của Việt Nam.
    55. Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    56. Trịnh Đình Thể (2007), Suy nghĩ về bình đẳng giới, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
    57. Lê Thi (2004), Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hóa và sự phát triển bền vững, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
    58. Nguyễn Vân Thu (2007), "Thiên kiến giới trong gia đình và hướng khắc phục", Tạp chí Lao động và Xã hội.
    59. Lê Ngọc Toàn (2005), “Công tác tư tưởng với mục tiêu bình đẳng giới”, Tạp chí Công tác tư tưởng.
    60. Uỷ ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2002), Số liệu thống kê về giới ở Việt Nam.
    61. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự.
    62. Lê Ngọc Văn (2006), Nghiên cứu gia đình lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
    63. Văn phòng Quốc hội (2003), Quyền của phụ nữ và trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    64. Viện Khoa học xã hội Việt Nam,Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Trung tâm nghiên cứu giới và gia đình (2007), Giới, việc làm và đời sống gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    luận văn

 

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.0