Chào bạn, Tạo tài khoản để download tài liệu
  • Đăng nhập:

Chào mừng đến với luận văn tốt nghiệp, khoá luận, Báo cáo thực tập, tiểu luận.

Hãy sử dụng công cụ tìm kiếm tài liệu để tìm kiếm tài liệu bạn đang cần !

Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    CộngTác Viên

    Ngày tham gia
    May 2011
    Bài viết
    3,722

    Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân việt nam

    Tip
    PHẦN MỞ ĐẦU


    1) Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
    Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hội nhập cùng thế giới, xây dựng một cơ chế kinh tế thị trường tự do, thịnh vượng nhưng ổn định. Để đáp ứng một xã hội mới với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó có cả các cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội, điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến vấn đề tranh chấp về quyền lợi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Để góp phần bảo đảm tính ổn định phát triển của đất nước, cần phải xây dựng một môi trường pháp lý thông thoáng, lành mạnh và tiến bộ, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công nhà nước pháp quyền. Vì vậy cần phải xây dựng một hệ thống toà án hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất từ trung ương đến địa phương, thực hiện tốt công tác bảo đảm và thực thi pháp luật, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng các yêu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho quần chúng nhân dân và yêu cầu đổi mới của đất nước.
    2) Mục đích nghiên cứu.
    Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống toà án trong việc bảo vệ pháp luật theo như khẳng định của các nhà luật học: ở đâu có pháp luật, ở đó phải có toà án để bảo vệ pháp luật. Các nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản đều thành lập các toà án. Tuy nhiên, bản chất, vai trò, quyền hạn, cách thức tổ chức và hoạt động của toà án thuộc mỗi kiểu nhà nước, hay trong mỗi nước là khác nhau. Vì vậy, tôi chọn đề tài này với mong muốn nâng cao hiểu biết của bản thân về vai trò, cũng như nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toà án nói chung và toà án Xã hội chủ nghĩa nói riêng, mà cụ thể là toà án nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi tôi đang nghiên cứu và học tập. Đồng thời cung cấp những kiến thức pháp lý cơ bản đến đông đảo công chúng, nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật của cộng đồng, góp phần xây dựng ý thức chung, tôn trọng và tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật của nhà nước.
    3) Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
    Niên luận lấy nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân Việt Nam là đối tượng nghiên cứu. Trong phạm vi các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, sửa đổi, bổ sung 2001 và Luật tổ chức Toà án 2002.
    4) phương pháp nghiên cứu.
    Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp nghiên cứu xuyên suốt. Bên cạnh đó tôi còn sử dụng các biện pháp bổ trợ khác như: đối chiếu, so sánh; phương pháp phân tích tổng hợp, tư duy logic, phương pháp lịch sử... để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu.
    5) Bố cục.
    Niên luận gồm ba phần:
    a) Phần mở đầu:
    1. Tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
    2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
    4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
    5. Bố cục.
    b) Phần nội dung.
    Gồm hai chương:
    Chương 1: Lịch sử hình thành và pháp triển, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của toà án nhân dân.
    Chương 2: Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân.
    c) Phần kết luận.

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN.

    1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
    Ngay từ thời La Mã cổ đại ( thế kỷ thứ V Tr.CN), các nhà luật học đã khẳng định rằng: ở đâu có pháp luật, ở đó phải có toà án để bảo vệ pháp luật. Các nhà nước chủ nô, phong kiến, nhà nước tư sản đều thành lập toà án. Tuy nhiên bản chất, vai trò, quyền hạn, cách thức tổ chức và hoạt động của toà án thuộc mỗi kiểu nhà nước, thậm chí ngay trong một nước là khác nhau.
    Sau cách mạng Tháng 8/1945, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, cùng với việc đập tan bộ máy thực dân - phong kiến, xoá bỏ các tổ chức kỳ hào ở nông thôn, xoá bỏ hai nghạch quan hành chính và tư pháp, xoá bỏ các cơ quan thuộc chính phủ toàn quyền....xây dựng bộ máy nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân. Để bảo vệ những thành quả cách mạng và trấn áp bọn phản cách mạng. Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh về việc thành lập các Toà án quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho theo Sắc lệnh ngày 13/9/1945. Như vậy, ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân, việc thành lập các chính quyền nhân dân, việc thành lập các toà án là hết sức cần thiết và đã được quyết định thành lập. Đến ngày 29/9/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời lại ra sắc lệnh thành lập thêm Toà án quân sự ở Nha Trang. Thẩm quyền của các toà án được Chủ tịch chính phủ quy định trong Sắc lệnh ngày 24/1/1946. tháng 11/1946, Quốc hội khoá I tại kỳ họp thứ 2 đã thông qua Hiến pháp 1946 trong đó có các quy định về hệ thống cá cơ quan toà án, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động. Đó là những văn bản luật đầu tiên đặt cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động cho các toà án nhân dân ở nước ta.
    Tháng 12/1946, kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, mọi hoạt động của nhà nước đều phải chuyển hướng. Cùng với việc tổ chức laijc hính quyền nhân dân, các toà án cũng được tổ chức lại cho hợp lý. Việc xử án ở các toà án thượng thẩm được quy định trong Hiến pháp tạm thời đình chỉ theo Nghị định số 5 của Bộ trưởng Bộ tư pháp ngày 1/1/1947. Uỷ ban kháng chiến khu được giao quyền thiết lập và tổ chức Toà án quân sự khu theo Nghị định số 13 ngày 29/1/1947 của Bộ trưởng Bộ nội vụ. Toà án binh cũng được thành lập ở các khu theo sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ. Hai tháng sau, Toà án binh tối caao cũng được thành lập ở các khu theo sắc lệnh của chủ tịch chính phủ ngày 25/4/1947. Ở địa phương các toà đệ nhị cấp ( toà xét xử theo hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm) cũng được thành lập theo Sắc lệnh số 185 của chính phủ ngày 26/5/1948.
    Ngày 25/5/1950 chủ tịch chính phủ ra Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó có quy định sửa đổi như: Toà án sơ cấp nay gọi là Toà án nhân dân huyện, Toà án đệ nhị cấp nay gọi là Toà án nhân dân tỉnh, Hội đồng phúc án nay gọi là Hội thẩm nhân dân. Khi xét xử hoặc bào chữa, thẩm phán và luật sư không mặc áo chùng đen...
    Sau hoà bình lập lại, cùng với việ kiện toàn bộ máy nhà nước, hệ thống toà án cũng được kiện toàn. Ngày 1/7/1959 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định 256, trong đó có quy định nhiệm vụ, tổ chức của Viện công tố.
    Ngày 27/8/1959 Thủ tướng chính phủ lại ra nghị định số 321 về thành lập các Viện công tố phúc thẩm. Theo các Nghị định trên, cá công tố uỷ viên tách khỏi toà án và các viện công tố được thành lập từ trung ương đến cấp huyện, trở thành một hệ thống trong bộ máy nhà nước. Tháng 12/1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp sửa đổi, trong đó có những quy định về hệ thống, chức năng và những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của toà án nhân dân.
    Trên cơ sở những quy định này, Quốc hôi khoá II, ỳ họp thứ I đã thông qua Luật tổ chức toà án nhân dân ngày 14/7/1960. Ngày 23/3/1961, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ra sắc lệnh quy định cụ thể về tổ chức của toà án nhân dân tối cao và tổ chức các toà án nhân dân địa phương. Các cơ quan toà án được thành lập theo các cấp hành chính từ trung ương đến cấp huyện. Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán được thay thế bằng nguyên tắc bầu Thẩm phán ở các toà án nhân dân địa phương. Phụ thẩm nhân dân ở các toà án được đổi tên thành Hội thẩm nhân dân. Cơ cấu tổ chức cũng như nhiệm vụ quyền hạn của các toà án được quy định rõ ràng và tương đối ổn định. Trên cơ sở những quy định trong Hiến pháp 1980, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá VII đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 3/7/1981. Theo luật này việc đào tạo cán bộ cho nghành toà án cũng như việc quản lý các toà án địa phương, Quốc hội giao cho Bộ tư pháp để cho Toà án nhân dân tối cao tập trung vào công tác hướng dẫn xét xử, giám đốc xét xử và trực tiếp xét xử.
    luận văn
    Tài liệu đính kèm Tài liệu đính kèm

 

 

Từ khóa vào site

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.1