Chào bạn, Tạo tài khoản để download tài liệu
  • Đăng nhập:

Chào mừng đến với luận văn tốt nghiệp, khoá luận, Báo cáo thực tập, tiểu luận.

Hãy sử dụng công cụ tìm kiếm tài liệu để tìm kiếm tài liệu bạn đang cần !

Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    Thành viên vinh dự

    Ngày tham gia
    Apr 2011
    Bài viết
    3,492

    Bình luận giá trị tư tưởng triết học nho giáo (nho gia) của khổng tử

    NOTE
    Bài Làm
    Nói đến nền văn minh cổ đại Trung Hoa thì quả là rộng lớn. Biết bao nhiêu hệ tư tưởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay. Từ thuyết âm dương ngũ hành, học thuyết của Khổng Tử, Lão tử... Thế nhưng trong các học thuyết ấy, không ai có thể chối cãi được rằng học thuyết Nho Giáo của Khổng tử là có vị trí quan trọng hơn hết trong lịch sử phát triển của Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng.
    Để phân tích được hết giá trị của học thuyết Nho Giáo thì chắc em chưa đủ khả năng, em mạnh dạn xin được bình luận về giá trị của học thuyết Nho Giáo của Khổng Tử.
    Tư tưởng triết học của Khổng tử không thiên về tư biện siêu hình mà thiết thực và mang đậm tính nhân văn, hướng về luân lý và nghệ thuật cai trị. Ông đã mang một tinh thần mới cho một truyền thống đang suy đồi và truyền tinh thần ấy cho một bộ phận quan trọng của tầng lớp tri thức.
    Học thuyết Khổng tử được trình bày tập trung trong Luận ngữ:
    - Thái độ đối với tôn giáo: Khổng tử không bàn về “những điều quái lạ, mệnh trời và thần linh”, giữ thái độ cách xa mà tôn kính, không theo cũng không gạt bỏ tín ngưỡng truyền thống. Đặc biệt ông bảo vệ, ca ngợi việc duy trì thờ cúng tổ tiên.
    - Tính chất nhân văn của học thuyết Khổng tử biểu hiện trong chữ Nhân, một khái niệm mang nội dung khá rộng. Nhân là cái đức cao nhất mà nhờ đó con người có thể cùng nhau sống thành xã hội. Ở một chỗ ông nói “làm chủ chính mình để tuân theo Lễ là Nhân” nghĩa là phải có hành vi theo đúng các quy tắc, chuẩn mực ứng xử và có những quan hệ thích hợp với đồng loại. Ở chỗ khác ông nói điều gì mình muốn cho mình phải muốn cho người khác, điều gì mình không muốn cho mình thì không làm cho người khác. Cuối cùng: “Nhân tóm lại là yêu mọi người”.
    Nhân là phẩm chất cần có của người quân tử. Để trở thành người quân tử thì phải tu thân, học tập và theo lời dạy của hiền nhân, phải biết tôn trọng mình và người khác, đặc biệt là tôn trọng người trên.
    Khổng tử muốn dạy một luân lý ngang tầm với mọi người, từ những tình cảm chung cho mọi người như hiếu và đễ hay tình bạn. Không nên quan tâm đến cái ngoài tầm tay, ngoài tầm nhìn nhận và suy nghĩ: có những cái con người không thể biết (sau khi chết con người sẽ ra sao?) có biết cũng không làm gì được (số mệnh con người) nhưng có lĩnh vực tự do thuộc quyền làm chủ của con người – lĩnh vực đạo lý, để từ đó thiết lập trật tự xã hội hợp lý.
    Mạnh tử truyền bá học thuyết của Khổng tử, đưa thêm vào tư tưởng dân bản (dân là gốc), thuyết tính thiện (bản tính con người là thiện), thuyết lương tri (con người bẩm sinh có mầm mống của các đức tính: lòng trắc ẩn là nguồn gốc của Nhân, biết xấu hổ và né tránh cái ác là nguồn gốc của Nghĩa, sự khiêm tốn và nhường nhịn là đầu mối của Lễ, biết phân biệt đúng sai là cơ sở của Trí) chỉ cần trau dồi các thiên hướng tốt này sẽ phát triển thành các đức tính cốt tử của Nho giáo.
    Tuân tử lại đề xướng ý kiến đối lập của Nho giáo coi bản tính con người là ác, cái thiện chỉ là giả tạo. Tuân tử nhấn mạnh chữ Lễ, xem như trật tự vũ trụ, trật tự xã hội phải tuân thủ nhằm tránh các xung đột.
    Từ đời Hán, vị trí của Nho giáo được đề cao. Đổng Trọng Thư phát triển lý thuyết mệnh trời và hệ thống hóa các quan hệ luân thường đạo lý thành tam cương, ngũ thường. Lý học đời Tống do Chu Đôn khởi xướng, hai anh em Trình Di – Trình Hạo phát triển, Chu Hy tổng kết mượn vũ trụ quan của Đạo giáo và Phật giáo bổ sung cho Nho giáo, lấy thuyết thái cực biện hộ cho lý thành hệ thống lý thuyết duy tâm xơ cứng nhằm bảo vệ trật tự chế độ phong kiến.
    Chúng ta tìm hiểu vì Nho giáo khi nó đã tồn tại hơn 2000 năm, luôn được cải biến được bổ sung và mang các bộ mặt khác nhau qua các thời kỳ. Nhiều học giả đã tốn rất nhiều giấy mực để sưu tâm, trích dẫn và bàn cãi chung quanh những câu chữ trong sách vở của Nho giáo từ trước tới nay. Việc làm ấy thường dẫn đến những nhận định chủ quan, giản đơn và phiến diện. Muốn khen hay chê người ta đều có thể trích dẫn những lời lẽ rất hấp dẫn từ trong kho sách của Nho giáo. Nhưng khi để ý rằng Khổng Tử - người sáng lập ra Nho giáo - khi đề ra những điều căn bản trong học thuyết của Nho giáo cũng đang ở tâm trạng phân vân, mâu thuẫn, vừa hoài cổ, vừa sùng thường, và bối cảnh xã hội lúc ấy cũng là lúc giằng co, giành giật giữa chế độ nô lệ và chế độ phong kiến. Sau này khi Nho học được cải biến để phục vụ ý đồ của giai cấp thống trị thì nó càng chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Vì thế không thể tìm hiểu Nho học theo lối trích dẫn, kinh viện vì nó chỉ càng dẫn ta vào ngõ cụt. Để tìm hiểu Nho học không thể không xem xét trên giác độ phương pháp duy vật lịch sử... Chúng ta không phân tích những sự kiện tư tưởng bằng bản thân tư tưởng mà phải tìm hiểu tư tưởng gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể trong đó nó đã nảy sinh, phát triển và suy tàn.
    luận văn
    Tài liệu đính kèm Tài liệu đính kèm

 

 

Từ khóa vào site

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.1