Chào bạn, Tạo tài khoản để download tài liệu
  • Đăng nhập:

Chào mừng đến với luận văn tốt nghiệp, khoá luận, Báo cáo thực tập, tiểu luận.

Hãy sử dụng công cụ tìm kiếm tài liệu để tìm kiếm tài liệu bạn đang cần !

Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    Vip I

    Ngày tham gia
    Nov 2011
    Bài viết
    3

    Cơ sở hình thành của tư tưởng HCM? Trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định nhất đến bản chất Cách Mạng và Khoa Học của Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Vì sao?

    NOTE
    I. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh:
    1. Cơ sở khách quan
    a. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
    • Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
    Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước và thế giới có nhiều biến động
    Trong nước, Chính quyền triều Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động… không cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký các hiệp ước đầu hành, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.
    Khi áp đặt chế độ cai trị trên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp trước hết đã thực hành chính sách “chia để trị” – chia cắt đất nước, chia cách dân tộc một cách giả tạo hòng phân tán lực lượng, thủ tiêu tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống nhất của dân tộc Việt Nam. Chúng buộc triều đình nhà Nguyễn ký những hiệp ước đầu hàng chia đất nước Việt Nam làm ba xứ, với ba chế độ chính trị khác nhau.
    Chia cắt Việt Nam, đồng thời chúng lại phải thống nhất bộ máy thuộc địa ở toàn Đông Dương, vừa để dễ dàng cho sự thống trị, vừa để cũng cố vị trí thuộc địa Đông Dương ở khu vực Đông Nam Á và trên toàn thế giới trước sự uy hiếp của các thế lực khác. Theo sắc lệnh ngày 18-10-1887, thực dân Pháp thành lập liên bang Đông Dương. Lúc đó mới bao gồm có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cam-pu-chia và còn trực thuộc bộ Hải quân và thuộc địa. Ngày 19-4-1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào liên bang Đông Dương Chia cắt Việt Nam làm ba kỳ, thực dân Pháp còn xóa bỏ sức mạnh thống nhất của dân tộc Việt Nam. Hợp nhất Việt Nam với Lào, Cam-pu-chia thành liên bang Đông Dương, chúng nhằm xóa bỏ tên Việt Nam cũng như tên Lào và Cam-pu-chia trên bản đồ thế giới.Đó là hai mặt của cùng một chính sách thâm độc của chúng.
    Chính sách thâm độc đó bắt đầu được thực hiện ngay từ cuối thế kỷ XIX và ngày càng được hoàn thiện vào đầu thế kỷ XX nhằm phục vụ đắc lực cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của chúng.
    Về tổ chức, đứng đầu liên Bang Đông Dương là Toàn quyền Đông Dương - người thay mặt chính phủ Pháp để cai trị Đông Dương về mọi mặt chính trị, quân sự, dân sự, ngoại giao… Dưới toàn quyền có tổng đốc Nam Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ và khâm sứ ở ba nơi là Trung Kỳ, Lào và Cam-pu-chia .
    Những viên toàn quyền kế tiếp nhau đã đề ra những biện pháp xây dựng và cũng cố chính quyền thuộc địa một cách thâm độc và tinh vi, khiến những thiết thế nhà nước mà chúng xây dựng về cơ bản cũng được áp dụng cho tới ngày chế độ thực dân Pháp bị lật đổ tháng 8-1945.
    Trước hết là cũng cố quan quyền lực cao nhất: Hội đồng tối cao Đông Dương. Chủ địch hội đồng toàn quyền, các ủy viên Hội đồng hầu hết là người Pháp, chỉ có hai người Việt đại biểu cho dân “bản xứ”.
    Năm 1911, Hội đồng tối cao Đông Dương đổi thành Hội đồng chính phủ Đông Dương, gồm 23 ủy viên, tất cả đều là người Pháp. Ngoài ra còn 4 người “bản xứ” do toàn quyền lựa chọn và chỉ định hằng năm (gồm 3 người việt của 3 xứ và 1 người Cam-pu-chia). Ngoài hội đồng tối cao Đông Dương còn có các tổ chức khác giúp việc toàn quyền như Hội đồng Phòng thủ Đông Dương, thành lập ngày 26-5-1913, Hội đồng tư vấn Học chính Đông Dương, thành lập ngày 21-12-1917… việc cũng cố chính quyền Liên bang gắn chặt với việc cũng cố chính quyền các xứ mà thủ đoạn “chia để trị” vẫn là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng.
    Các cuộc khai thác của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hoá, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản bắt đấu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước. Nhiều phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam đã nổi dậy để giải phóng dân tộc Việt Nam.
    Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở cuộc tiến công trại lính Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật (1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895). Cùng thời gian này còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, kéo dài đến năm 1913.
    Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra.
    Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908).Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật để chống đế quốc Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời. Giữa lúc đó Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911). Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, nhưng rồi cũng không thành công.
    Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở Trung Kỳ, có cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong tràođấu tranh chống thuế (1908).
    Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt.
    Mặc dù các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam
    Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. ở một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương... cũng có những hoạt động phối hợp.
    Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, còn mang nặng cốt cách phong kiến, chưa phải là lối thoát rõ ràng, hướng đi đúng đắn; vì thế nó nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn chiến sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn đầu đài họ hô vang khẩu hiệu "Việt Nam vạn tuế". Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái.
    Nhìn chung, các phong trào đấu tranh của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tuy diễn ra sôi nổi nhưng diễn ra đơn lẻ, không có sự đoàn kết và không có phương hướng rõ ràng nên nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu.
    Từ diễn biến trong nước đã đặt ra yêu cầu là muốn cứu nước, muốn giải phóng được dân tộc thì phải tìm ra một con đường hoàn toàn mới cho cách mạng Việt Nam. Chính bối cảnh lịch sử lúc đó đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.
    • Bối cảnh thời đại (quốc tế).
    * Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang gia đoạn độc quyền đã xác lập quyền thống trị và thực hiện xâm lược thuộc địa, mở rộng thị trường. Điều đó đặt ra một vấn đề: Các dân tộc thuộc địa mà muốn được giải phóng thì cần phải đoàn kết với nhau trong việc đấu tranh chống kẻ thù chung, đó chính là chủ nghĩa đế quốc.Vì thế cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không chỉ còn là hành động riêng lẻ nữa mà trở thành cuộc đấu tranh chính của các dân tộc thuộc địa.
    * Sự thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917). Đây là một cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra thắng lợi. Thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga đã nêu lên một tấm gương cho các dân tộc thuộc địa trong việc đấu tranh để giải phóng.
    * Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập để đoàn kết nhân dân các nước thuộc địa với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư trong việc chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
    Như vậy, từ thực tế bối cảnh quốc tế cũng đã góp phần cổ vũ, tạo động lực giúp cho Nguyễn Tất Thành tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam
    b. Những tiền đề tư tưởng lý luận
    • Giá trị truyền thống dân tộc:
    Trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chúng ta đã xây dựng, bồi đắp lên được truyền thống, giá trị của dân tộc Việt Nam:
    * Trước hết đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Điều đó được phản ánh từ văn hóa dân gian đến văn hóa hiện đại, từ những nhân vật cổ tích như Thánh Gióng đến các anh hùng xa xưa như Bà Trưng, Bà Triệu hay thời phong kiến như Lê Lợi, Nguyễn Trãi… Lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước được hình thành từ rất sớm và trở thành một tính chất của mọi người dân Việt và đây là một yếu tố quan trọng nhất để Nguyễn Tất Thành đi vào con đường cách mạng (Lòng yêu nước là cái vốn có của người dân Việt. Vấn đề đặt ra là Đảng phải khơi gợi). Baùc khaúng ñònh raèng : “Daân toäc ta coù loøng noàng naøn yeâu nöôùc. Ñoù laø truyeàn thoáng quyù baùu cuûa ta töø xöa ñeán nay, moãi khi ñaát nöôùc bò xaâm laêng thì tinh thaàn aáy laïi soâi noåi noù keát tinh thaønh moät laøn soùng voâ cuøng maïnh meõ to lôùn, noù löôùt qua moïi söï nguy hieåm, noù nhaán chìm moïi luõ baùn nöôùc, cöôùp nöôùc”.
    * Tiếp đó là tinh thần nhân nghĩa ,truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái. Ngay từ buổi bình minh của dân tộc, các thế hệ Việt Nam đã răn dạy nhau:
    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương
    Người trong một nước phải thương nhau cùng”
    Tinh thaàn nhaân nghóa, truyeàn thoáng ñoaøn keát, töông thaân, töông aùi,”laù laønh ñuøm laù raùch”, trong hoaïn naïn, khoù khaên. Truyeàn thoáng naøy hình thaønh cuøng moät luùc vôùi söï hình thaønh daân toäc. Ngöôøi Vieät Nam soáng gaén boù vôùi nhau trong tình laøng nghóa xoùm, taét löûa toái ñeøn coù nhau. Hoà Chí Minh ñaõ keá thöøa, phaùt huy söùc maïnh cuûa truyeàn thoáng nhaân nghóa, Ngöôøi ñaõ nhaán maïnh vaø caên daën: “ Daân ta xin nhôù chöõ ñoàng: ñoàng tình, ñoàng söùc, ñoàng loøng, ñoàng minh”
    * Truyeàn thoáng laïc quan yeâu ñôøi cuûa daân toäc ta. Truyeàn thoáng naøy ñaõ ñöôïc keát tinh qua haøng ngaøn naêm lòch söû ñöa daân toäc ta vöôït qua muoân ngaøn khoù khaên, laïc quan tin töôûng ñoäng vieân nhau: “ Chôù thaáy soùng caû maø ngaõ tay cheøo “. Truyeàn thoáng laïc quan ñoù coù cô sôû laø nieàm tin vaø söùc maïnh cuûa baûn thaân mình tin vaøo söï taát thaéng cuûa chaân lí, chính nghóa maø Hoà Chí Minh laø hieän thaân cuûa truyeàn thoáng laïc quan ñoù
    * Nhaân daân ta coù truyeàn thoáng caàn cuø, duõng caûm, thoâng minh, saùng taïo trong saûn xuaát vaø trong chieán ñaáu ñoàng thôøi luoân coù tinh thaàn caàu thò luoân luoân môû roäng cöûa ñeå ñoùn nhaän nhöõng tinh hoa vaên hoùa nhaân loaïi ñeå laøm giaøu neàn vaên hoùa cuûa daân toäc mình vaø ngöôøi VN ñaõ tieáp thu Nho giaùo, Phaät giaùo cuûa phöông Ñoâng, tö töôûng vaên hoùa phöông Taây moät caùch haøi hoøa coù choïn loïc bieán caùi hay, caùi toát, caùi ñeïp, cuûa nhaân loaïi thaønh giaù trò cuûa daân toäc mình, cuûa baûn thaân mình. Hoà Chí Minh laø hình aûnh sinh ñoäng vaø troïn veïn cuûa truyeàn thoáng ñoù
    Có thể nói, những giá trị truyền thống dân tộc đó ngấm vào xương, vào máu mọi người dân Việt Nam nói chung và bản thân Hồ Chí Minh nói riêng. Chính những truyền thống cao đẹp đó đã góp phần giúp cho Người tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc mình.
    • Tinh hoa văn hoá của nhân loại
     Tinh hoa văn hoá phương Đông: Người tiếp thu Đạo phật và Nho giáo
    * Về nho giáo: Hồ Chí Minh xuất thân trong 1 gia đình Nho giáo nên Người đã tiếp thu những quan điểm tốt đẹp của Nho giáo.
    Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
    Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh). Cần phải hiểu cơ sở triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó.
     Tu thân:
    Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
    Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình.
    Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
    Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc“chết người”
    + Quân thần: ("Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" nghĩa là: dù vua có bảo bề tôi chết đi nữa thì bề tôi cũng phải tuân lệnh, nếu bề tôi không tuân lệnh thì bề tôi không trung với vua)Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
    + Phụ tử: ("phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu")
    + Phu phụ: ("phu xướng phụ tùy" nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo)
    Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
    + Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.
    + Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.
    + Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.
    + Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.
    + Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.
    Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
    + Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha
    + Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng
    + Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con"
    Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
    + Công: khéo léo trong việc làm.
    + Dung: hòa nhã trong sắc diện.
    + Ngôn: mềm mại trong lời nói.
    + Hạnh: nhu mì trong tính nết.
    Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:
     Đạt đạo. Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách Trung Dung), tương đương với "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu". Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân[1]. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là "trung dung". Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam cương hay còn gọi là Tam tòng.
     Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng". Khổng Tử nói: "Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay "dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa, lễ, trí". Hán nho thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín". Năm đức này còn gọi là ngũ thường.
     Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người quân tử còn phải biết "thi, thư, lễ, nhạc". Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện.
     Hành đạo:
    Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, thiên hạ bình ". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:
    Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (sách Luận ngữ). Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?" (sách Luận ngữ).
    Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. "Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ). Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con" (sách Luận ngữ).
    Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi.
    Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường).
    Hồ Chí Minh đánh giá rất cao Khổng Tử. Ngày 19/5/1966, Người đến thăm Khổng Tử, khắc chữ lên bia đá: "Khổng Tử là người thầy vĩ đại nhất của nhân loại".
    Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo một cách có chọn lọc, hay nói cách khác Người đã chắt lọc những mặt tích cực, loại bỏ tiêu cực xây dựng xã hội mới tốt đẹp “những chuẩn mực để tu dưỡng đạo đức trong xã hội nho giáo, tư tưởng về một xã hội đại đồng của Khổng Tử, tư tưởng lấy dân làm gốc, tư tưởng hành đạo giúp đời, đề cao việc học, coi trọng hiền tài”.
    + Người dùng rất nhiều những khái niệm, phạm trù nho giáo như: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" (Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân) .
    + Người đánh giá rất cao tư tưởng bình đẳng của nhà Phật: "Ta là Phật đã thành còn chúng sinh là Phật sẽ thành".
    * Về Phật giáo: Phật giáo xuất hiện ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại (nay thuộc Nêpan) vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên.
    Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni (nghĩa là ông thánh hay nhà hiền triết của tộc người Thích Ca). Đây là tên gọi khi thành đạo. Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người thực hiện được mục đích”, họ là Gautama (Cù Đàm), vốn là con đầu vua Tịnh Phạn. Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước công nguyên, và mất năm 483 trước công nguyên. Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử để đi tu, tìm đường diệt khổ cho chúng sinh. Sau 6 năm, ông đã “ngộ đạo” và trở thành Thích Ca Mâu Ni (35 tuổi). Khi ấy ông lấy hiệu là Buddha có nghĩa là “người giác ngộ” (Trung quốc dịch là Phật). Người ta gọi ông là Sakya-muni (Trung quốc dịch là Thích Ca Mâu Ni - nhà hiền triết xứ Sakya).
    Những nguyên lý cơ bản của Phật giáo:
     Duyên khởi
    Trên các tượng Phật và tòa tháp Phật giáo thường khắc “Pháp thân kệ”, với nội dung: “Nhược pháp nhân duyên sinh, pháp dịch nhân duyên diệt; thị sinh diệt nhân duyên, Phật đại sa môn thuyết.” Ở đây “Phật đại sa môn” là tôn xưng của Phật Đà. Câu nói trên tuyên truyền ý: vạn pháp vũ trụ đều dựa theo nhân duyên mà sinh diệt, kể cả ngoại cảnh mặt vật chất và tâm thức mặt tinh thần, đều do “duyên” mà sinh ra, tức sự hòa hợp nguyên nhân hoặc điều kiện, duyên đến (“tập”) thì pháp sinh, duyên đi (“khứ”) thì pháp diệt. Đây là tư tưởng cơ bản của thuyết Duyên Khởi.
    Duyên Khởi là tư tưởng, giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo, thể hiện quan điểm của Phật giáo đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh, là cơ sở triết học của giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo, như nhân quả, không hữu, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát v.v…
    Nói cách khác, các giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo đều là sự triển khai của tư tưởng Duyên Khởi. Thuyết Duyên Khởi khác với thuyết Vô Nhân (không có nguyên nhân), thuyết Ngẫu nhiên, thuyết Thần tạo và thuyết Định mệnh; nó là một luận thuyết tương đối hợp lý về sự sinh thành diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới. Duyên Khởi luận là thế giới quan độc đáo của Phật giáo, là đặc sắc lớn nhất và đặc trưng căn bản để phân biệt Phật giáo với các tôn giáo khác.
    Tư tưởng Duyên Khởi chứa đựng hai tư tưởng quan trọng là “quan hệ” và “quá trình”, là thế giới quan của thuyết quan hệ, thuyết quá trình.
    Duyên Khởi là một mối quan hệ, cũng là một quá trình. Phật giáo cho rằng do vạn vật trong vũ trụ đều là Duyên Khởi nên đều có tứ tướng sinh, trú, dị, diệt, là một quá trình không ngừng biến dị. Cũng vậy, con người sống trong quá trình sinh, lão, bệnh, tử và sinh tử lưu chuyển. Cần thừa nhận tư tưởng quá trình đó hàm chứa tư tưởng vận động, biến hóa, phát triển, nên coi đó là biểu hiện của tư duy biện chứng.
     Nhân Quả
    Duyên Khởi nói nhân duyên hòa hợp mà sinh ra “Quả”. Cái có thể sinh kết quả là Nhân, cái do nguyên nhân mà sinh là kết quả. Về thời gian thì Nhân trước, Quả sau. Nhân Quả tồn tại trong diễn biến trước sau nối nhau, trong sự hòa hợp liên quan đến nhau. Có nguyên nhân thì tất có kết quả; có kết quả tất có nguyên nhân. Mọi sự vật đều biến đổi sinh diệt theo phép Nhân Quả. Luật Nhân Quả là lý luận cơ bản Phật giáo dùng để giải thích mối quan hệ tương hỗ của mọi sự vật.
    Dựa vào phép Duyên Khởi, Phật giáo tiến thêm một bước đưa ra tư tưởng Nhân Quả Báo Ứng nhằm giải thích mối quan hệ giữa hoạt động thân tâm (thể xác và tinh thần) của các chúng sinh với kết quả. Về luân lý, nó trình bày thuyết thiện có thiện báo, ác có ác báo, tức thiện Nhân lạc Quả, ác Nhân khổ Quả, cho ta cơ sở tư tưởng vững chắc và hữu hiệu để quảng đại tín đồ tu trì đạo đức bỏ ác theo thiện.
    Phật giáo cho rằng hoạt động thân tâm của chúng sinh không những đem lại quả báo cho chính mình mà còn mang lại quả báo cho không gian, môi trường sinh tồn của sinh mệnh
    Các tư tưởng quả báo này của Phật giáo thể hiện sự hiểu rõ mối quan hệ Duyên Khởi đối với mối quan hệ tương hỗ giữa thế giới chủ thể và thế giới khách thể, thế giới chủ quan và thế giới khách quan, thể hiện sự quan tâm đối với kết quả hoạt động của các loại chúng sinh, sự quan tâm đối với môi trường tự nhiên, môi trường sống.
    Trung Đạo
    Là con đường chính giữa không lệch về bên nào, vượt trên sự cực đoan, lệch về hai bên hữu vô (“không”), nhất dị, khổ lạc, yêu ghét. Trung Đạo là lập trường căn bản và đặc sắc cơ bản của Phật giáo. Thích Ca Mâu Ni phản đối thuyết Thần Ngã của đạo Bà La Môn; về lý luận đề xuất phép Duyên Khởi “Thử hữu bỉ hữu, thử sinh bỉ sinh”, “Thử vô bỉ vô, thử diệt bỉ diệt”, từ đó nhấn mạnh “Ly vu nhị biên, thuyết vu Trung Đạo”. Cũng là nói dựa theo thuyết Duyên Khởi bất hữu bất vô, bất nhất bất dị, bất thường bất đoạn, bất lai bất khứ.
    Trong thực tiễn, Thích Ca Mâu Ni đề xuất “Bát Chính Đạo”, vừa phản đối chủ nghĩa khoái lạc lại phản đối chủ nghĩa khổ hạnh, đề xướng Trung Đạo Hạnh bất khổ bất lạc, tức tư duy, lời nói, hành vi, ý chí, đời sống … của con người đều nên vừa phải, giữ ở mức ở giữa không lệch bên nào.
    Không và Hữu (có) là hai cách nhìn cơ bản của Phật giáo đối với vũ trụ nhân
     Bình đẳng
    + Bình đẳng giữa người với người
    “Tăng nhất A hàm kinh” cho rằng 4 hạng người (“Tứ chủng tính”) trong xã hội Ấn Độ cổ là Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Khuyển Xá và Thủ Đà La nên bình đẳng với nhau, phản đối dựa vào chủng tính và đẳng cấp để bàn luận sự cao quý, hạ tiện, cao thấp của con người; nhấn mạnh phải dựa vào sự cao thấp về đạo đức, sự nông sâu về trí tuệ để đánh giá thành tích của con người; chủ trương tu trì tố chất, nâng cao đạo đức, trí tuệ để tiến lên cõi lý tưởng của đời người. Bình đẳng tứ chủng tính của PG thể hiện tư tưởng bình đẳng nhân quyền, là phong trào nhân quyền đặc biệt phản đối sự phân biệt chủng tính và áp bức giai cấp, nó nhất trí với yêu cầu bình đẳng nhân quyền của xã hội hiện đại.
    * Bình đẳng chúng sinh
    Thông thường Phật giáo coi 9 giới từ Bồ Tát tới địa ngục (trong 10 giới không kể Phật) nhất là lục đạo từ Trời đến địa ngục, là chúng sinh. Phật giáo cho rằng chúng sinh khác nhau tuy có tính khác biệt nhưng bản chất sinh tồn và sinh mệnh của chúng sinh thì bình đẳng; Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh mọi chúng sinh đều có Phật tính. Kinh Niết Bàn khẳng định mọi chúng sinh đều có Phật tính, tức là bình đẳng với nhau về nguyên nhân, căn cứ và khả năng thành Phật.
    * Bình đẳng giữa chúng sinh với Phật
    Phật giáo tuyên truyền tư tưởng “sinh Phật bất nhị, sinh Phật nhất như”, cho rằng chúng sinh và Phật, về bản chất đều có đủ Chân như Phật tính; chúng sinh mê vọng hoàn toàn không diệt Chân như Phật tính; Phật giác ngộ cũng hoàn toàn không tăng thêm Chân như Phật tính, mà đều như nhau, có khả năng thành Phật. Nói theo ý nghĩa đó thì chúng sinh và Phật là bình đẳng bất nhị. Điều này khác hẳn với cách nói của tôn giáo khác, coi “nhân thần vi nhị” (người và thần là hai thể khác nhau), nói người là do thần tạo ra hoặc từ thần mà ra.
    * Bình đẳng giữa chúng sinh với vô tình
    “Vô tình” tức là không có ý thức tình cảm, là thứ không có tính tinh thần. Như Thiên Đài tông của Phật giáo Trung Quốc tuyên truyền thuyết “Vô tình hữu tính”, cho rằng cây cỏ, núi sông đất cũng có Chân như Phật tính, mọi thứ trong thiên nhiên đều là thể hiện của Phật tính. Xét về điểm cùng có Phật tính như nhau, thì vật vô tình và chúng sinh không có khác biệt bản chất, bình đẳng vô nhị với nhau. Cần nói đây là sự xác nhận tôn nghiêm đối với các sinh vật và vô sinh vật trong giới tự nhiên, là sự kính trọng đối với muôn vật.
    Quan niệm bình đẳng của Phật giáo dựa trên học thuyết Duyên Khởi, xây dựng trên sự bình đẳng Nhân Quả. Chúng sinh và Phật đều như nhau cùng có Chân như Phật tính, bình đẳng về mặt nguyên nhân thành Phật, chúng sinh và Phật đều có khả năng thành tựu Phật quả, tiến lên cõi Niết Bàn lý tưởng cao nhất, là sự bình đẳng về mặt kết quả. Chúng sinh và Phật bình đẳng Nhân Quả, không có gì khác biệt. Tư tưởng bình đẳng Nhân Quả này của Phật giáo là nói về khả năng, có tính phi hiện thực, nó cung cấp cơ sở lý luận cho thuyết giải thoát.
    Quan niệm bình đẳng của Phật giáo thể hiện sự thống nhất sinh mệnh quan, tự nhiên quan và lý tưởng giá trị quan. Quan niệm bình đẳng cận đại coi trọng bình đẳng nhân quyền, nó có mối quan hệ bổ sung với quan niệm bình đẳng về mặt giải thoát con người do Phật giáo đề xướng.
    * Từ Bi
    Trên cơ sở tư tưởng Duyên Khởi, Bình Đẳng, Phật giáo cho rằng trong đại hoàn lưu sinh thái vũ trụ, mọi chúng sinh đều có thể từng là người thân của ta. Ta nên có tâm thái bình đẳng, tình nghĩa báo ơn, tâm nguyện từ bi để đem lại cho chúng sinh sự an lạc, trừ bỏ sự đau khổ của chúng sinh. PG tuyên truyền tư tưởng “Tam Duyên Từ Bi”, chia đối tượng từ bi làm 3 loại, từ đó quy kết thành 3 lọai từ bi: - chúng sinh duyên bi; - pháp duyên bi; - vô duyên bi. Trong 3 loại đó, “Vô duyên từ bi” là loại cao nhất. Từ bi là tư tưởng đặc thù của Phật giáo, nó không hoàn toàn giống với nhân ái, bác ái do các giáo phái khác đề xướng. Từ bi không bị hạn chế bởi đẳng cấp, giai cấp, nó cũng loại trừ tính thiên tư hẹp hòi.
    * Giải thoát
    Phật giáo lấy giải thoát làm lý tưởng cuối cùng cho chúng sinh. Giải thoát là không có ô nhiễm, không có chấp trước, là được “Đại tự tại”, tức cõi tự do tự tại, cũng gọi là cõi Niết Bàn. Phật giáo cho rằng chúng sinh có nhiều phiền muộn, như ba cái độc “tham” (tham dục), “sân” (sân huệ), “si” (ngu si), chúng trở ngại cho sự thành trưởng thiện căn, làm cho chúng sinh lưu chuyển trong nỗi khổ sinh tử không bao giờ hết. Giải thoát là thoát ra khỏi nỗi khổ phiền muộn và sự trói buộc của lưu chuyển sinh tử, được giải phóng, được siêu việt, được tự do, tiến lên cõi lý tưởng.
    Phật giáo cao độ coi trọng đạo giải thoát. Phật giáo thời kỳ đầu lấy Bát Chính Đạo, thời kỳ sau lấy sự lĩnh hội chân lý làm con đường giải thoát. Phật giáo còn đề xướng “Mọi thứ đều do lòng người tạo ra” cho rằng sự lưu chuyển luân hồi hoặc giải thoát Niết Bàn của chúng sinh đều quyết định ở lòng người. Giải thoát không phải là việc của cá nhân, chỉ có tự giác ngộ và người khác cùng giác ngộ thì mới được giải thoát thật sự.
    Hồ Chí Minh đã kế thừa những mặt tích cực, hợp lý của Phật giáo như: tư tưởng cứu khổ, cứu nạn, đề cao lao động, chống lười biếng, chủ trương thực hiện bình đẳng trong xã hội. Người cũng đã tìm thấy ở “chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơn những điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta là tư tưởng dân chủ tiến bộ “đó là dân tộc được độc lập. dân quyền được tự do, dân sinh được hanh phúc.
    * Về chủ nghĩa Tam dân:
    Chủ nghĩa Tam dân là một luận cương chính trị do Tôn Trung Sơn đề xuất, với tinh thần biến Trung Quốc thành một quốc gia tự do, phồn vinh và hùng mạnh.
    Tôn Trung Sơn sinh năm (1866 - 1925), Quê ở Huyện Hương Sơn, Tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
    Tôn Trung Sơn bắt đầu hoạt động chính trị từ những năm 90 thể kỷ XIX. Ông nêu lên cương lĩnh của chủ nghĩa Tam dân: dân tộc, dân quyền và dân sinh.
    Năm 1911 ông lãnh đạo cách mạng Tân Hợi, cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc, đánh đổ sự thống trị 267 năm của nhà Mãn Thanh, kết thúc chỉnh thể phong kiến hơn hai nghìn năm, lập nên nước cộng hòa dân chủ tư sản.
    + Chủ nghĩa dân tộc: Phản đối chủ nghĩa đế quốc và quân phiệt cấu kết xâm lược, mưu cầu bình đẳng dân tộc và quyền tự quyết dân tộc.
    + Chủ nghĩa dân quyền: thi hành chính sách dân chủ, ngăn cản sự lạm dụng chế độ hiện hành của Âu-Mỹ, nhân dân có quyền bầu cử, kêu gọi bầu cử, sáng tạo, trưng cầu dân ý để thông qua đó chọn ra các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
    + Chủ nghĩa dân sinh: quyền về đất đai của mỗi người dân và kiểm soát vốn (tư nhân không thể thao túng sinh kế quốc dân).
    Hồ Chí Minh tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn vì thấy trong đó có những điều thích hợp với điều kiện nước ta.
    Với tinh hoa văn hoá của phương Đông, Hồ Chí Minh tìm thấy điểm chung đó là đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Đây cũng là mục tiêu, là lý tưởng của Người nên đã góp phần giúp Người tìm ra con đường cứu nước.
     Tinh hoa văn hóa phương Tây
    Từ khi Người còn học ở các trường Tiểu học Đông Ba, Quốc học Huế, Người đã say mê môn học lịch sử và tìm hiểu về cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789. Một điểm quan trọng tác động đến Hồ Chí Minh là tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, nó là xuất phát điểm để Người xác định hướng đi tìm đường cứu nước của mình. Người kể lại: Vào trạc tuổi 13, tôi có nghe được những từ “Tự do, bình đẳng, bác ái”, lúc đó các sĩ phu yêu nước đang bàn với nhau về những từ này, điều đó thôi thúc Người quyết tâm sang phương Tây, sang Pháp để tìm hiểu tự do, bình đẳng, bác ái, xem họ làm thế nào để trở về cứu nước, cứu đồng bào. Qua đó, có thể thấy tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái có ảnh hưởng rất mạnh đến Hồ Chí Minh trước khi xuất dương tìm đường cứu nước.
    Những tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng như Vônte, Rútxô, Môngtexkiơ cũng ảnh hưởng đến tư tưởng Người về tự do, bình đẳng. Người tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của đại cách mạng Pháp năm 1791; các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập ở Mỹ năm 1776. Khi sang Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc, Người tiếp thu và hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn ở châu Âu.
    Nói tóm lại, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
    • Chủ nghĩa Mác-Lênin.
    Chủ nghĩa Mác – Lê Nin là đỉnh cao về trí tuệ loài người, đây là tư tưởng của giai cấp công nhân. Lúc đầu Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê Nin thông qua việc tham gia vào Đảng xã hội Pháp và tại đây người được một đồng chí đưa cho luận cương của LêNin về các vấn đề dân tộc thuộc địa và sau khi tìm hiểu được về chủ nghĩa Mác – LêNin thì lúc đấy Người mới tiếp cận sâu hơn về chủ nghĩa Mác – Lê Nin.Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” Người viết “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin”. Người đến với chủ nghĩa Lênin vì “Luận cương” của Lênin nói tới vấn đề thuộc địa. Chính chủ nghĩa yêu nước đã dẫn Người đến với chủ nghĩa Lênin. Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” Người viết: “Lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên… Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông, bà” ấy… đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Còn Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu”. Năm 1920 là một bước ngoặt lớn đối với cuộc đời hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính Người đã đến với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
    Trong thời gian hoạt động, Người tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt thời gian làm việc ở Liên Xô, Người đã hiểu khá sâu sắc về chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế. Sự tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin là một định hướng quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
    Người nhận thấy rằng, không phải chỉ dân tộc mình cần được giải phóng mà cần giải phóng những con người cùng khổ. Người nhận ra mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc; mối quan hệ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, rồi đi đến giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác-Lênin trang bị thế giới quan cách mạng, phương pháp luận duy vật biện chứng để Hồ Chí Minh tổng kết lịch sử, tổng kết thực tiễn tìm ra con đường cứu nước, Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
    2. Nhân tố chủ quan
    • Khả năng tư duy và trí tuệ của Hồ Chí Minh:
    Trước hết ở Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu những tư tưởng, văn hóa cách mạng cả trong nước và trên thế giới. Như nhà báo Liên Xô Ô.Mandenxtam khi tiếp xúc với Hồ Chí Minh đã sớm nhận biết: “Từ Hồ Chí Minh tỏa ra một thứ văn hóa không phải Âu Châu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”.
    Sự khổ công học tập của Nguyễn Ái Quốc đã chiếm lĩnh được vốn tri thức của thời đại với kinh nghiệm đấu tranh của phong trào dân tộc- phong trào công nhân quốc tế để có thể tiếp cận được chủ nghĩa Mac-Lenin, khao học và kỹ thuật.
    • Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh:
    Phẩm chất đó được thể hiện đó là một người có bản lĩnh kiên cường, là một người sáng tạo ham học hỏi cái mới, là người có tâm hồn của một chiến sĩ yêu nước hết lòng vì nước, vì dân và là một người khổ công trong học tập, rèn luyện để tích luỹ kiến thức của nhân loại. Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã khám phá ra lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về cách mạng Việt Nam, kiên trì chân lý và định ra các quyết sách đúng đắn, sáng tạo để đưa cách mạng đến thắng lợi.
    Kết luận: Tóm lại, Tư Tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự tổng hoà và phát triển biện chứng Tư Tưởng văn hoá truyền thống của dân tộc, tinh hoa Tư Tưởng văn hoá của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa Mac - Lenin làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của Người - một con người có tư duy sáng tạo, có Phương Pháp biện chứng, có nhân cách, phẩm chất Cách Mạng cao đẹp tạo nên. Tư Tưởng Hồ Chí Minh là Tư Tưởng Việt Nam hiện đại.
    II. Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở quyết định nhất đến bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Chủ nghĩa Mac lenin la cơ sở thế giới quan, phương pháp luận, nguồn gốc tư tưởng, lý luận trực tiếp qđ bản chất Cm và KH của tư tưởng HCM. HCM là người trung thành, vận dụng sáng tạo va phát triển chủ nghĩa Mác leenin vào đk cụ thể của CMVN. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đỉnh cao của tư duy nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của các đảng cộng sản và công nhân trong đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, "muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lê-nin". Đối với Người, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.
    Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một nguồn gốc - nguồn gốc chủ yếu nhất, của tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ - bộ phận cơ sở, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác - Lê-nin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cho nên, có thể nói, ở Việt Nam, giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là giương cao chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Muốn bảo vệ và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách có hiệu quả, phải bảo vệ, quán triệt và giương cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là lịch sử mà cũng là lô-gíc của vấn đề. Nó giúp chỉ ra sai lầm của quan niệm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
    Tư tưởng Hồ Chí Minh là "kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại"
    luận văn

 

 

Đề tài tuơng tự

  1. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-09-2012, 05:33 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 09-08-2011, 08:56 PM
  3. TIỂU LUẬN Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời đại mới
    By dohoangan2210 in forum Tư Tưởng Hồ Chí Minh
    Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 07-13-2011, 11:22 AM
  4. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 07-10-2011, 05:49 PM
  5. Trả lời: 0
    Bài viết cuối: 06-14-2011, 08:11 AM

Từ khóa vào site

cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh

trong các cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh cơ sở nào quan trọng nhấthttp:bookluanvan.vnf81co-so-hinh-thanh-cua-tu-tuong-hcm-trong-cac-co-so-do-co-so-nao-quyet-dinh-nhat-den-ban-chat-cach-mang-va-khoa-hoc-cua-tu-tuong-ho-chi-minh-vi-sao-35195co so hình thành tư tưởng hồ chí minhcơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh cơ sở nào quan trọng nhấtphan tich co so khach quan hinh thanh tu tuong ho chi minhhay neu va phan tich de lam ro nhung tien de li luan hinh thanh tu tuong ho chi minhphan tich co so hinh thanh tu tuong ho chi minhcơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí MinhCơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minhPhân tích cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minhco so hinh thanh tu tuong ho chi minhtrinh bay co so hinh thanh tu tuong ho chi minhcơ sở nào quan trọng nhất ở hình thành tư tưởng hồ chí minhtiểu luận cơ sở chủ quan hình thành tư tưởng hồ chí minhtien de nao quan trong nhat vi saohay neu va phan tich de lam ro cac tien de hinh thanh tu tuong HCM Theo em trong nhung tien de ay tien de nao quan trong nhat quyet dinh nhat Tai saocơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh và làm sáng tỏ tiền đề quan trọng nhấttieu luan co so hinh thanh tu tuong ho chi minhco so khach quan hinh thanh tu tuong ho chi minhnêu cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minhnhung tien de ly luan hinh thanh tu tuong hcm tien de nao quan trog nhat.tai sao.chung minhtrinh bay khai quat co so hinh thanh tu tuong hcmcác yếu tố hình thành tư tưởng hồ chí minh yếu tố nào quan trọng. vì saocac yeu to hinh thanh tu tuong ho chi minh yeu to nao quan trong nhat tai sao

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.1