Chào bạn, Tạo tài khoản để download tài liệu
  • Đăng nhập:

Chào mừng đến với luận văn tốt nghiệp, khoá luận, Báo cáo thực tập, tiểu luận.

Hãy sử dụng công cụ tìm kiếm tài liệu để tìm kiếm tài liệu bạn đang cần !

Kết quả 1 đến 1 của 1
  1. #1
    CộngTác Viên

    Ngày tham gia
    Oct 2011
    Bài viết
    1,556

    Phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại cổ phần bắc á

    NOTE
    Qua bảng cân đối kế toán cho ta thấy:
    - Trong cơ cấu tài sản của ngân hàng, tiền cho khách hàng vay chiếm tỷ trọng lớn. Điều này là do tính chất đặc thù của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và mảng tín dụng là mảng quan trọng số một của ngân hàng nước ta hiện nay. Nhưng tỷ trọng của chỉ tiêu này thay đổi giảm xuống trong năm 2007 ( giảm tử 43.57% trong năm 2006 xuống còn 37,81)điều này phù hợp với xu hướng hiện đại hoá ngành ngân hàng là đa dạng hoá hình thức kinh doanh và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Trung ương. Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác tăng đột biến từ 6.85%lên 37.73 %. Đây cũng là hình thức kinh doanh tiền phổ biến của các ngân hàng và hình thức kinh doanh tiền này khá an toàn. Khoản mục dự phòng rủi ro khách hàng luôn âm và tăng vọt trong năm 2007 điều này thể hiện tính rủi ro tín dụng tăng nhanh, lý do là cuối năm 2007 cuộc khủng hoảng tín dụng cho vay thế chấp nhà tại Mỹ đã ảnh hưởng đến Việt Nam và giá bất động sản ở Việt nam cũng sụt giảm khá mạnh. Ngân hàng cần chú trọng hơn nữa đến chỉ tiêu này để chỉ tiêu này mang dấu dương đảm bảo an toàn hoạt động cho ngân hàng và toàn hệ thống. Do đặc thù của ngân hàng nên tỷ trọng chỉ tiêu tài sản cố định trong tổng tài sản là khá nhỏ và giảm dần trong năm 2007 do trong năm 2007 Ngân hàng không mở thêm chi nhánh hay phòng giao dịch nào. Khoản mục đầu tư dài hạn tăng hơn 2 lần so với năm 2007 thể hiện Ngân hàng đã kinh doanh mạo hiểm hơn đặc biệt là đầu tư dài hạn vào kinh doanh chứng khoán.
    - Trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng nợ chiếm 91.45% trong năm 2006 và 90.35% trong năm 2007. Như vậy tỷ trọng nợ của Ngân hàng là rất lớn. Một phần đây cũng là đặc trưng của ngân hàng, phần khác nó cũng phản ánh tính rủi ro mà Ngân hàng phải gánh chịu. Nhưng tỷ trọng này giảm trong năm 2007, đây là một dấu hiệu tốt của Ngân hàng. Vốn điều lệ tăng nhẹ. Lợi nhuận chưa phân phối tăng từ 0.91% trong năm 2006 lên 0.96% trong năm 2007 làm do vốn chủ sở hữu tăng lên và do đó làm thay đổi cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu.


    2.
    Ta thấy, Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng manh trong 2 năm 2006-2007. Nguyên nhân là do lãi thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng gần 3 lần đóng góp gấp đôi vào ngân sách nhà nước thông qua khoản mục thuế thu nhập doanh nghiệp. Kinh doanh chứng khoán luôn mang lại lợi nhuận cao nhưng lại có xu hướng giảm trong năm 2007. Nên Ngân hàng cần phải có những bước đi vững chắc hơn trong lĩnh vực đầy rủi ro này. Trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối đã làm giảm doanh thu của Ngân hàng. Ngân hàng luôn luôn lỗ về lĩnh vực này. Nhưng mức độ lỗ lại giảm trong năm 2007 từ -2.5% xuống 0.91%. Lợi nhuận sau thuế tăng đột biến. Năm 2006 chỉ chiếm 13.5% nhưng đến năm 2007 đã tăng lên hơn 2 lần chiếm 20.6% làm cho lãi cơ bản trên một cổ phiếu tăng gần 2 lần từ 143.547 nghìn đồng lên 269.114 nghìn đồng. Điều này phần nào làm tăng vị thế của Ngân hàng trên thị trường tiền tệ.

    II. PHÂN TÍCH TỶ SỐ
    1. Phân tích tỷ số quản lý tài sản.
    - Tỷ suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần/ Tài sản bình quân
    - Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn= Doanh thu thuần/tài sản ngắn hạn bình quân
    - Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu thuần/ Tài sản cố định bình quân
    Trong đó tài sản bình quân= (Tài sản đầu kỳ+Tài sản cuối kỳ)/2
    Tài sản ngắn hạn bình quân= (Tài sản ngắn hạn đầu kỳ + Tài sản ngắn hạn cuối kỳ)/2
    Tài sản cố định bình quân = ( Tài sản cố định đầu kỳ+ Tài sản cố định cuối kỳ)/2
    Chỉ tiêu tỷ số nợ trên tổng tài sản giảm phản ánh cơ cấu nợ trong tổng nguồn vốn giảm. Đây là dấu hiệu tốt, và do tỷ số này giảm nên chỉ tiêu tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu tăng lên. Một phần nguyên nhân là lợi nhuận chưa phân phối để lại cho các quỹ làm tăng vốn chủ sở hữu.
    Ta thấy tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tăng mạnh, nó phản ánh khả năng sinh lời của một đồng doanh thu tăng so với năm 2006. Tỷ suất sinh lợi căn bản cũng tăng nhẹ. Nhưng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sau thuế/ vốn chủ sở hữu lại giảm. Điều này không phải do ngân hàng hoạt động không hiệu quả mà do lợi nhuân chưa phân phối được dữ lại làm tăng vốn chủ sở hữu.Chính vì khả năng sinh lời của các ngân hàng rất cao nên lương của cán bộ nhân viên là cao so với mặt bằng thị trường.
    Hàng năm một tỷ lệ rất lớn lợi nhuận sau thuế được giữ lại để đầu tư làm tăng vốn chủ sở hữu và Ngân hàng không dùng nhiều để kinh doanh ngành nghề mới mà chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên do tính đặc thù là rủi ro rất cao nên Ngân hàng phải thật sự nhận định chính xác tránh thua lỗ. Tỷ lệ tăng trưởng bền vững nhanh ngày càng khẳng định uy tín của Ngân hàng vì so với các ngân hàng thương mại cổ phần hác thì Ngân hàng Bắc Á kinh doanh ít mạo hiểm hơn, không đi sâu kinh doanh bất động sản do vậy ít chịu ảnh hưởng của biến động trong thị trường này

    5. Phân tích tỷ số giá thị trường

    III. Kết luận chung
    Nhìn chung hoạt động của Ngân hàng trong năm 2007 là rất tốt. Khả năng sinh lợi cao, hoạt động có hiệu quả và an toàn. Tuy nhiên một số lĩnh vực kinh doanh còn lỗ như kinh doanh ngoại hối, chưa đi sâu mở rộng thị trường kinh doanh.Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề này.
    luận văn
    Tài liệu đính kèm Tài liệu đính kèm

 

 

Từ khóa vào site

Nobody landed on this page from a search engine, yet!

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  

Search Engine Friendly URLs by vBSEO 3.6.1